Tách theo bộ phận để dễ nhớ mặt chữ. Đây không phải giải thích từ nguyên.
Chữ giản thể 饿 viết sang phồn thể là 餓.
Bản phồn thể dùng ở Đài Loan, Hồng Kông và Ma Cao. Đề thi HSK dùng chữ giản thể.
Bộ "饣" (thức ăn) đứng bên trái, "我" (tôi) ở bên phải, hình như tôi đang đứng trước bát ăn mà không có gì, nên nhớ là "đói".
Cách tách để dễ nhớ, không phải từ nguyên học.
Tính từ đói, làm vị ngữ: 我饿了 (tôi đói rồi). Đối lập với 饱 (no). Từ ghép: 饥饿 (đói khát), dùng trong văn viết.
我饿了。
Wǒ è le.
Tôi đói rồi.
I'm hungry.