他没吃饭,怪不得饿了。
Tā méi chī fàn, guài bu de è le.
Anh ấy chưa ăn cơm, hèn gì đói.
He didn't eat, no wonder he is hungry.
Phó từ, nghĩa là “thảo nào, hèn gì”: khi biết nguyên nhân thì thấy kết quả không có gì lạ. Thường đứng đầu vế nêu kết quả, vế kia nêu nguyên nhân: như ví dụ “chưa ăn cơm, thảo nào đói”. Đồng nghĩa với “难怪”.
Cách tách để dễ nhớ mặt chữ, không phải từ nguyên học.